Lịch sử di tích: Lăng và nhà thờ 18 vị quận công được xây dựng năm 1703 là nơi tôn thờ, tưởng niệm về những danh nhân của gia tộc họ Nguyễn Đức,một trong những dòng họ “Trâm anh thế phiệt của xứ Kinh Bắc”. Bia đá dựng năm 1708 có chép về Quế Quận công cho xây dựng như sau: Ông lại truy ân cha mình mà cho dựng 2 ngôi miếu, một ở xã Quế Ổ, một ở xã Dũng Quyết. Trước miếu đều có đầy đủ một đôi voi đá và một đôi ngựa đá, con cháu sau này đời đời thờ phụng”. Nhà thờ được khởi dựng từ lâu đời, là nơi tôn thờ tiên tổ dòng họ Nguyễn Đức. Đến nay không có tư liệu nào ghi chính xác về việc khởi dựng nhà thờ vào thời gian nào, nhưng trong ký ức của các thành viên trong họ hiện nay thì nhà thờ họ vốn được xây dựng từ đời cụ thủy tổ. Trải thăng trầm lịch sử, khu lăng và nhà thờ đến nay qua nhiều lần tôn tạo, cho dáng vẻ ngày một khang trang.
Lăng và nhà thờ 18 vị quận công họ Nguyễn Đức được xếp hạng là Di tích Lịch sử và nghệ thuật cấp Quốc gia, Quyết định số 138/QĐ ngày 31/01/1992.
Kiến trúc di tích:
Khu lăng: Gồm các công trình: cổng, lăng bia, nhà Hậu đường.
Sự bài trí các hạng mục công trình, hiện vật trong lăng nhìn từ cổng trở vào như sau: Một đôi ngựa đá, đến đôi voi đá - vị trí đăng đối nhau qua đường thần đạo chạy vào ban thờ và bia đá.
Nổi bật trong khu lăng là tấm bia đá lớn, trán bia được chạm nổi “Lưỡng long chầu nguyệt”, diềm và đế cũng được chạm nổi hình rồng, mây cuộn rất công phu nghệ thuật. Chính giữa bia khắc nổi những dòng chữ Hán lớn, nội dung: “Phụng sai Đề lĩnh tứ thành quân vụ sự kiêm Lạng Sơn, Hải Dương, An Quảng, đẳng sứ trấn thủ quan, hậu nội cơ tham đốc Quế Quận công Nguyễn Đức Uyên bi”, bia dựng năm 1708. Năm 2002, dòng họ đã cho xây dựng 1 nhà che bia 2 tầng 8 mái đao cong bằng chất liệu bê tông cốt thép, 4 góc có 4 cột, xung quanh để trống không xây tường bao.
Phía sau Lăng bia là Nhà thờ Đề lĩnh Quế Quận công – người có công mang đồ đá về tôn tạo khu lăng, tạo nên những tác phẩm đá độc đáo như ngày nay. Nhà thờ có kiến trúc hình chữ Đinh, gồm 5 gian Tiền đường và 1 gian Hậu cung, bộ khung gỗ được chạm khắc trang trí đơn giản.
Nhà thờ:Nhà thờ có kiến trúc hình chữ Nhất gồm 5 gian. Kiến trúc theo kiểu “bình đầu bít đốc tay ngai cột trụ cánh phong”, cửa mở ở 3 gian giữa, hệ thống cửa bức bàn “thượng song hạ bản”, hai gian bên trổ cửa sổ hình chữ Thọ. Bộ khung Nhà thờ được làm chất liệu hiện đại, sơn trang trí giả gỗ. Vì nóc giá chiêng, vì nách kẻ ngồi, trốn 2 hàng cột cái. Toàn bộ đồ thờ tự mới được bổ sung tạo tác sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Phía trước nhà thờ là khoảng sân hẹp, lát gạch đỏ. 3 gian giữa có 5 bậc thềm ốp đá xẻ dẫn xuống sân, 2 bên có đôi rồng trong tư thế bò xuống. Cổng xây dựng bằng chất liệu hiện đại, 4 mái đao cung, mái dán ngói.
Giá trị di tích: Lăng 18 vị quận công họ Nguyễn Đức là nơi tưởng niệm 18 vị Quận công họ Nguyễn Đức. Họ Nguyễn Đức là một gia tộc, dòng chính (đại tôn) ở Quế Ổ xã Chi Lăng, là gia tộc có nhiều quan võ nhất của quê hương và đất nước với 18 vị quận công, trong đó có nhiều vị được phong làm thành hoàng làng, 3 vị được phong vương, 5 vị đỗ tạo sĩ, 76 vị được phong tước hầu. Di tích còn lưu giữ được nhiều hiện vật không chỉ là những minh chứng đầy đủ, chính xác về các danh nhân trong gia tộc, như các bản gia phả, phả đồ, câu đối, hoành phi, bia đá có nội dung về gia tộc họ Nguyễn Đức, mà còn cho chúng ta thấy được nghệ thuật chạm khắc điêu luyện trên các đồ thờ tự của nhân dân ta vào thời kỳ đó.
Cảnh quan di tích: Khu lăng hiện nằm ở giữa làng, trên một khu đất cao, quay hướng Tây Nam, khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng với nhiều cây xanh. Nhà thờ nằm ở trung tâm của làng, cách khu lăng 500m, quay hướng Nam, xung quanh là khu dân cư đông đúc, trù mật.
Dịch vụ mua sắm: Thôn Quế Ổ, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ là một trong những làng nghề truyền thống về đồ tre nứa. Du khách đến nơi đây không chỉ được tham quan, tìm hiểu di tích lịch sử, mà nếu có nhu cầu về các sản phẩm thủ công tre nứa chất lượng cao (bị cói, sảo, rổ, giá, chiếu đan…) thì đây chắc chắn sẽ là một điểm đến thú vị, không thể bỏ qua.
Hướng dẫn viên: Nguyễn Văn Tuyên - Cán bộ Văn hóa xã Chi Lăng.
SĐT: 0965897266
Nguồn: Ban quản lý Di tích tỉnh Bắc Ninh