Được phát triển bởi Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông

Giá trị di tích Đình Tứ Cờ

18/04/2025 273 0

Đình Tứ Cờ, xã Ngũ Thái, thị xã Thuận Thành là công trình văn hoá, tín ngưỡng tiêu biểu được xây dựng từ lâu đời. Trải thời gian, ngôi đình đã nhiều lần được tu sửa tôn tạo, thay đổi quy mô, kiến trúc. Cuối thời Nguyễn, ngôi đình có kiến trúc kiểu "chữ Nhị" gồm: đình Hạ 3 gian, kiến trúc kiểu “bình đầu bít đốc”, bộ khung bằng gỗ lim; đình Thượng 3 gian 2 chái, kiến trúc 4 mái đao cong, bộ khung gỗ lim, chạm khắc trang trí tinh xảo, hai bên có ván sàn, gian giữa tạo lòng giếng. Đình Thượng là trung tâm thờ tự tôn nghiêm, nơi đặt long ngai, bài vị và các đồ tế tự khác.

Năm 1952, giặc Pháp càn phá ác liệt tại địa phương và phá hủy tất cả các công trình tôn giáo, tín ngưỡng trong đó có ngôi đình cổ kính. Trong điều kiện khó khăn chung của cả nước tập trung cho 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ suốt một thời gian dài đình chưa được khôi phục lại. Năm 1996, nhân dân địa phương chung sức đồng lòng phục dựng lại đình trên nền đất xưa. Tuy quy mô phục dựng không được như dáng vẻ vốn có của ngôi đình cổ song cũng phần nào đáp ứng mong mỏi của nhân dân trong đời sống văn hóa, tinh thần. Năm 2006, nhân dân hạ giải ngôi đình cũ, xây dựng lại ngôi đình mới với quy mô khang trang và dáng vẻ như hiện nay.

Hiện, đình Tứ Cờ quay mặt hướng Tây - Bắc, gồm các công trình: Nghi môn, Đại bái và Hậu cung tạo thành mặt bằng kiến trúc kiểu chữ Đinh. Trong khuôn viên di tích còn có đền thờ Bác Hồ và các anh hùng liệt sĩ, miếu Bà Cô.

Đình Tứ Cờ phụng thờ Thành hoàng là “Chính Hộ đại vương”, húy là Cao Biền. Căn cứ các nguồn sử liệu cho biết Cao Biền là người U châu (Bắc Kinh ngày nay). Đối với nước ta ông có công lớn trong việc đánh đuổi giặc Nam Chiếu và xây thành công thành Đại La (TK IX). Đối với dân làng Tứ Cờ, thánh Cao Biền là người đã có công chiêu dân lập ấp. Cuốn thần tích được lý trưởng và quan viên hương lão trong làng kê khai năm 1938 cho biết như sau: “Ngài nhân từ lấy đức trị dân, ở phủ trị vì 9 năm, sau ngài đi tuần hành các quận huyện hương ấp, khi đến phủ Thuận An, làng Yên Việt, khi bấy giờ làng tôi có hai trại Hữu Lân, Tứ Cờ, các phụ lão hai trại ra nghênh tiếp, bái yết ngài làm lễ cơm rượu yến tiệc thưởng quân sĩ. Ngài dùng lễ xong, thưởng cho phụ lão, ban cho kim biển “Mỹ tục khả phong”. Ngài chia bờ cõi cho dân, bắt nước sông Thiên Đức phải chảy về đồng điền dân được tiện lợi sự cầy cấy, dân cám ơn lắm, tôn ngài làm phúc thần, lập sinh từ đề thờ ngài và tôn là “Chánh hộ đại vương... Ngài ban cho nhân dân 500 quan tiền, vàng là 50 lạng, ruộng là 50 mẫu để lập sinh từ thờ Ngài.

Giá trị của đình Tứ Cờ còn thể hiện ở lễ hội truyền thống đặc sắc. Từ xưa đến nay cứ đến ngày 10 tháng 3 (Âm lịch), nhân dân lại mở hội. Làng Tứ Cờ xưa chia làm 4 giáp gồm: Giáp Nhất, giáp Thượng, giáp Đông, giáp Đoài được phân công các công việc chuẩn bị khi mở hội và các công việc chung của làng. Vào đám, ngày mồng 9 tháng 3 làm lễ mở cửa đình, bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt. Sang ngày 10 chính hội, dân làng tổ chức lễ rước, đám rước xuất phát từ đình làng tới nghè, sau đó quan viên và dân làng tổ chức tế lễ đức Thánh ngự tại nghè và rước trở lại đình để tế lễ. Đám rước của làng cùng với các lễ vật, đồ thần khí, tế khí, long đình, kiệu bát cống, cờ biển, tàn lọng với chiêng trống, đội nhạc bát âm cùng dân làng và khách thập phương tham gia. Tiếc là từ khi nghè bị giặc Pháp phá hủy năm 1952 cho đến nay lệ rước vẫn chưa được phục hổi lại. Sau phần rước là phần tế lễ. Trong cuốn thần tích thần sắc kê khai năm 1938 đã quy định rõ những người tham gia tế lễ phải tắm gội sạch sẽ, quần áo chỉnh tề. Lúc tế hay khi ngày thường phải kiêng đọc tên húy của đức thánh, chữ Hộ đọc thành chữ Hệ, tiếng hộ đọc là giúp. Lúc tế lễ thì chủ tế phải bận áo thụng màu lam, trước mặt và sau lưng thêu con công, đầu đội mũ, chân đia hia, tay cầm hốt, còn người bồi tế cùng các quan viên tế đầu đội mũ, đi hia vận áo thụng xanh. Về lễ vật tế thì dùng trên có lễ chay gồm giầu, rượu, xôi, oản quả, dưới là cỗ mặn gà, lợn… Sau khi tế xong các đồ lễ được phân phát cho cả đồng dân theo 4 giáp. Lễ tế của dân làng kéo dài trong ngày mồng 10, đến cuối ngày thì lễ tạ và kết thúc hội. Bên cạnh nghi thức tế lễ là phần hội với nhiều tục trò chơi dân gian đặc sắc như: đu, vật, kéo co, đánh cờ…cùng với các hình thức diễn xướng dân gian như hát chèo, quan họ…

- Cao Thị Thanh Hải - 

Những bài viết liên quan

Lịch trình mẫu