Nghi Khúc vốn là vùng đất cổ, được bồi đắp phù sa bởi sông Cầu Đìa và sông Đại Quảng Bình (tức sông Tiêu). Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ rất sớm, nơi đây đã có con người đến sinh cơ lập nghiệp. Trải bao thế kỷ, bằng sức lao động bền bỉ, sự sáng tạo của nhiều thế hệ người dân đã khai hoang, phục hóa biến vùng đầm hồ, sình lầy thành những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ trồng lúa, trồng màu như: Ông Đống, Bãi Bụt, Mả Vua, Bãi Thiểm... Trong quá trình xây dựng quê hương, người dân nơi đây đã sớm hình thành truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái tạo nên một cộng đồng bền chặt. Bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa lâu đời của quê hương đã được kết tinh trong những phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp mang đậm bản sắc dân tộc, đặc biệt là các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng như: đình, nghè, chùa, miếu…
Chùa Nghi Khúc vốn được khởi dựng từ thời Lê (TK XV - XVI) với quy mô lớn, ban đầu có tên chữ là "Đông Phao tự". Tương truyền khi mới khởi dựng, chùa có quy mô nhỏ, kiến trúc hình chữ Nhất, gồm 03 gian Tam bảo. Đến năm Ất Dậu (1585), chùa được trùng tu xây mới tòa Tiền đường và Thiêu hương. Nội dung tấm bia "Đông Phao tự tân tạo Thiêu hương Tiền đường bi" (Bia ghi việc xây mới toà Thiêu hương, Tiền đường chùa Đông Phao) lập ngày 08 tháng 09 năm Đoan Thái thứ nhất (1586) hiện đang lưu giữ tại chùa Nghi Khúc đã cho biết thông tin này. Như vậy, đến năm 1585, chùa Nghi Khúc có kiến trúc hình chữ Công gồm: Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, ngoài cùng là Tam quan Gác chuông xây chồng diêm 02 tầng 08 mái. Trong chùa bài trí nhiều tượng Phật cùng đồ thờ uy linh. Trong khuôn viên chùa còn có nhà Tổ, nhà Mẫu cùng vườn tược cây cối thâm nghiêm. Đến TK XVIII, Tỳ khiêu Hải Hựu là người đã tiếp nối trụ trì chùa và đổi tên chùa "Đông Phao" thành chùa "Pháp Ấn" lưu truyền từ đó đến nay.
Trải thăng trầm lịch sử, dưới tác động của thời gian, các công trình của chùa bị xuống cấp, hư hỏng và đã qua nhiều lần trùng tu sửa chữa. Năm 2005, xây dựng lại tòa Tam bảo trên nền đất chùa cũ. Các công trình khác của chùa như nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Địa tạng... cũng được tu bổ tôn tạo lại theo kiến trúc truyền thống.

Tòa Tam bảo chùa Nghi Khúc
Hiện chùa Nghi Khúc quay mặt hướng Nam, gồm các công trình kiến trúc: Tam bảo, nhà Mẫu, nhà Tổ, nhà Địa tạng, vườn tháp... Tam bảo kết cấu hình chữ Đinh, gồm: Tiền đường 3 gian 2 dĩ 2 chái, xây chồng diêm 02 tầng 08 mái đao cong, bộ khung chịu lực bằng bê tông cốt thép, gồm 06 bộ vì, kết cấu các bộ vì kiểu "thượng giá chiêng, hạ kẻ ngồi, bẩy hiên". Thượng điện gồm 4 bộ vì tạo thành 03 gian 01 dĩ nằm dọc, kiến trúc chồng diêm 02 tầng mái, bộ khung bằng bê tông, kết cấu bộ vì gian giữa kiểu "thượng giá chiêng, hạ kẻ ngồi, bẩy". Các công trình tại chùa được bài trí nhiều hiện vật và đồ thờ tiêu biểu như: hệ thống tượng Phật, bia đá, hoành phi, câu đối… Ngoài ra tại chùa còn bảo lưu được 04 ngôi tháp cổ bằng gạch chỉ, nơi an nghỉ của các vị sư tổ đã từng trụ trì tại chùa, trong đó có "Tháp Viên tịch" được xây dựng vào hạ tuần tháng 9 năm Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 30 (1769), là nơi an táng di cốt của Sa di ni Nguyễn Thị Trâm, pháp hiệu Diệu Định. Hệ thống tài liệu, hiện vật tại chùa là nguồn sử liệu quan trọng để xác định vị trí, vai trò của di tích, góp phần nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của địa phương nói riêng và làm giàu thêm kho tàng di sản văn hóa nước nhà.

Khu vườn tháp tại chùa Nghi Khúc
Chùa Nghi Khúc là nơi thờ Phật, thờ Tổ, thờ Mẫu và thờ Địa tạng - nơi giúp con người gạt bỏ tham - sân - si và sống hướng thiện. Hàng năm tại chùa diễn ra nhiều sinh hoạt văn hóa tôn giáo, trong đó hội chùa cũng là ngày giỗ tổ chùa được tổ chức vào ngày 30 tháng 08 và ngày 20 tháng 10 (âm lịch). Vào ngày này, tại chùa tổ chức dâng hương cúng Phật, cầu phúc, cầu an, lễ vật chủ yếu dùng lễ chay (hương, hoa, phẩm oản, trầu, rượu). Lễ hội ở chùa vừa là sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, vừa là sinh hoạt văn hóa phản ánh nếp sống cộng đồng của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ với những nghi lễ mang đậm dấu ấn riêng có của địa phương.
Từ những giá trị cơ bản trên, chùa Nghi Khúc (Pháp Ấn tự), phường An Bình, thị xã Thuận Thành đã được Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa tại Quyết định số 970/QĐ-UBND ngày 06 tháng 06 năm 2025.
Nguyễn Thị Lan (Phòng Thuyết Minh)