

Một số hình ảnh đám rước tại lễ hội Đền Đậu
Lễ hội đền Đậu là lễ hội lớn của cả một vùng gồm 3 tổng 9 xã 2 huyện cùng phối hợp tổ chức. Đó là các tổng Mộ Đạo, Đại Toán, Yên Giả thuộc hai huyện Quế Dương và Võ Giàng gồm 9 xã. Các xã này lại chia làm 3 “Tích” theo thứ tự giống như anh em trong một gia đình. Tích 1 bao gồm: Mộ Đạo, Mai Ổ, Trạc Nhiệt. Tích 2 bao gồm: Tập Ninh, Đức Tái, Đô Đàn. Tích 3 bao gồm: Chúc Ổ, La Miệt, Yên Giả. Cả 9 làng xã này đều thờ chung đức thánh Bình Thiên Vương. Hội được mở cứ 3 năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 3 âm lịch. Ngoài ra làng Trúc Ổ và La Miệt có hội riêng vào năm sau khi có hội chính của đền Đậu.
Để chuẩn bị cho mở hội, từ đầu tháng 2 các vị chức sắc bô lão của 9 hàng từ đã phải họp bàn để thống nhất chủ trương, kế hoạch và các công việc cụ thể. Sau khi có sự bàn định thống nhất chung của 9 làng, từng hàng từ về chuẩn bị và tiền hành luyện tập đến khi diễn ra lễ hội được trang trọng và đúng nghi thức.
Để tiến hành cho lễ hội đền Đậu, các làng phải chuẩn bị rất công phu, đặc biệt là chuẩn bị cho lễ rước. Mỗi làng phải chọn cử ra: 1 ông chủ tế và các ông trong đội tế; chọn lấy 2 người tướng cờ và 30 người làm quân cờ, chọn đội “giai trần” 18 người để khiêng kiệu, long đình; chọn “đô tùy” là người để đánh trống, cầm cờ, cầm tàn, tán, lọng, 2 người phục vụ cho tướng cờ...
Các ông Chủ tế và bà Tướng cờ phải là người “phu phụ song toàn, tử tôn hưng thịnh” có nghĩa là người đó phải có hoàn cảnh tiêu biểu trong làng, có uy tín, có năng lực, nói năng lưu loát, đức hạnh tiêu biểu...Các ông trong đội tế cũng phải chọn những người tiêu biểu trong làng. “Giai trần” là những thanh niên trai tráng, khỏe mạnh đều nhau, có hoàn cảnh tốt, là những người tiêu biểu trong lớp thanh niên của làng. Quân cờ là những cô gái từ 13 đến 16 tuổi khỏe mạnh, có nhan sắc và phẩm hạnh tốt trong các gia đình tiêu biểu.
Khi đã chọn đủ người bố trí vào các bộ phận tham gia lễ hội. Các bộ phận tiến hành luyện tập thành thục cho đến khi vào lễ hội, thống nhất các động tác, ăn khớp các bước đi, dừng, nghỉ... Khi vào hội, người được chon vào Chủ tế, Tướng cờ, quân cờ, giai trần, đô tùy...phải luyện tập rất vất vả, tốn kém tiền của để may trang phục theo lễ hội. Nhưng đây lại là niềm vinh dự tự hào vì mình và gia đình được làng chọn vào tham gia công việc chung của làng. Dù vất vả tốn kém nhưng ai nấy đều phấn khởi, vui vẻ, làm việc hăng hái với trách nhiệm cao. Theo quy định của dân làng, những người được chọn còn phải kiêng kỵ như không ăn thịt chó, mắm tôm, không gần gũi vợ hoặc chồng...thể hiện sự chay tịnh sạch sẽ không làm ô uế nơi thờ Thánh.
Ngoài những người được chọn vào các chức vị cho lễ hội thì toàn dân, mọi nhà cũng đều náo lức chuẩn bị cho lễ hội như quần áo, dọn dẹp nhà cửa, làm cơm mời khách...Trước ngày chính hội, vào 15 tháng 3 các làng tổ chức rước thử một lần, đi quanh làng mình về đình để xem có chỗ nào chưa đạt thì bổ khuyết lại cho đúng.

Trong các ngày diễn ra lễ hội đền Đậu, phần tổ chức nghi lễ rước là uy nghi, trang nghiêm và linh thiêng đông vui hơn cả. Từ sáng sớm các bộ phận tham gia lễ rước đã tập hợp đông đủ, vào vị trí sẵn sàng. Nhân dân trong làng cũng tập trung đông đúc để cùng đi xem rước. Thứ tự đoàn rước, trước hết là 5 lá cờ hội tượng trưng cho ngũ hành do 5 người Đô tùy mặc áo hội, đội nón chóp nhỏ, lưng thắt bó que hoặc mặc áo nâu. Tiếp theo là trống cái có 2 người khiêng trong đó có 1 người thủ hiệu đánh trống. Sau trống là chiêng cũng vậy. Mỗi một tiếng trống lại đánh 1 tiếng chiêng. Tiếp tục là đám múa kỳ lân, ăn mặc như phường chèo, đeo mặt nạ vừa đi vừa múa để dẹp đường cho đám rước. Kế tiếp là hồng mã và bạch mã thắng bành, thắng cương như ngựa thật, ngựa có bánh xe để kéo, có tàn lọng che. Kế đến là 2 người cầm tán đi hai bên, rồi đến người mang gươm trường, bát biểu, ở giữa có 1 người cầm biển “Thượng đẳng tối linh”. Người cầm biển phải mặc áo thụng, có lọng che. Kế tiếp là phường đồng văn, một vài người cai cầm trống khẩu, 1 người cầm thanh la, 2 người cầm sinh tiền, 7-8 người mặc áo vọng đỏ, mỗi người đeo một mặt trống bản ngang lưng theo điệu cà rồng (điệu đánh trống hành quân khi xưa). Một người đánh trống lớn, năm bảy trống con họa theo cho đám rước rộn rã. Kế đến là một người mặc áo thụng cầm lá cờ vóc thêu chữ lệnh gọi là cờ vía, có lọng vàng che, cờ ấy tức là cờ tướng lệnh của thần. Tiếp theo là 3 người đội nón dấu, thắt lưng bó que mội người cầm 1 thanh gươm. Tiếp tục là bảy tám người tài tử chơi nhạc, rồi đến rước long đình. Trên long đình có 1 bát hương, 1 hòm sắc và đồ hương hoa, ngũ quả. Có 4 người giai trần khiêng, 2 người cầm trống khẩu đi trước mặt, đo tùy đem theo hương cho thơm tho. Xung quanh long đình có tán, lọng, quạt, có vải che kín rất tôn nghiêm.
Sau long đình là đám rước cỗ gồm mâm cỗ chay đầy là các loại bánh trái. Tiếp theo là tướng cờ và quân cờ. Tương cờ ăn mặc đẹp có 1 người hầu đi cạnh. Sau đó đến rước kiệu. Kiệu phải có 8 giai trần khiêng (giai trần đóng khố, cởi trần đầu quấn khăn có dải vài đeo chéo che thân, cạnh khố đeo cái quạt tàn, 1 cái túi đựng trầu, đựng thuốc gọi là “khố bao khăn vắt” theo tích thần đi đánh giặc lội qua sông).Trên kiệu có ngai thờ, có quạt, 2 bên có có 2 tán che. Cạnh kiệu có người mang tàn, tán đi kèm.
Tiếp sau kiệu là các bô lão, các viên chức trong làng, mặc áo thụng đi hộ giá. Ai có phẩm hàm một chút thì mặc áo bố tử, che lọng xanh. Cuối cùng là đông đảo nhân dân trong làng, khách thập phương cùng hòa vào đám rước. Cứ theo thứ tự như vậy đám rước dài hàng mấy trăm mét, màu sắc đỏ vàng rực rỡ, tiếng rền vang một khoảng trời, hàng nghìn người hồ hởi, phấn khởi cuốn theo đám rước. Có một người chỉ huy cầm cờ điều hành đám rước cho đều, điều chỉnh giờ lên, xuống kiệu, giờ nghỉ...đều theo hiệu lệnh.
Từ đình các làng thuộc 9 hàng từ rước xuống đến Đậu, sau khi tập trung tế lễ thì lại rước về các đình. Đám rước của 9 hàng từ rộn rã, náo nhiệt khắp cả một vùng quê thật sự là một ngày hội lớn của cả vùng. Các làng tổ chức rước theo thứ tự được quy định rất chặt chẽ như sau: Tích 1 đi đầu gồm có các thôn Mộ Đạo, Trạc Nhiệt, Mai Ổ; tiếp theo là đoàn rước của Tích 2 theo thứ tự có các thôn Tập Ninh, Đức Tái, Đô Đàn; đoàn rước của Tích 3 đi sau cùng có các thôn Trúc Ổ, Yên Giả, La Miệt. Khi rước Mộ Đạo đi trước, các làng dù đến trước cũng phải chờ theo thứ tự từ tích 1 đến tích 3 như kể ở trên.
Sau khi đám rước tập trung đông đủ tại địa điểm đầu làng Mộ Đạo cũ (nay là điếm canh làng Mai Ổ) sẽ tiến hành rước theo thứ tự xuống Đền và tổ chức lễ tế. Đội hình tế lễ gồm: Thôn Mộ Đạo được bầu là anh cả nên giữ vai trò chủ tế. Ông chủ tế đội mũ, đi hia, đứng ở chính tọa, tiếp sau là 3 ông chánh tổng và 9 ông lý trưởng của 9 xã làm bồi tế, quan viên đứng ở hai bên, khoảng 30 người. Hàng ngày, 9 xã tiến hành tế lễ cả sáng và chiều cho đến ngày giã hội. Ngoài cửa đền, mỗi xã cử ra 4 người mặc áo nâu đỏ vác siêu đao đứng thi tập (đứng gác).
Lễ vật tế do 9 thôn cùng sửa soạn gồm trên cỗ chay, dưới cỗ mặn. Cỗ chay có các loại bánh dày, chè lam, kẹo lạc, xôi, oản làm với kích cỡ lớn. Cỗ mặn bao giờ cũng có “tam sinh” gồm thịt ngỗng trắng, thịt dê và thịt lợn. Đặc biệt trong mâm cỗ phải có rượt hoàng tửu (đó là một loại rượu nếp được cô lại thành màu vàng óng, sánh và thơm ngon).
Sau khi tế lễ xong ở đền, các hàng từ về lại đình làng mình tiếp tục tế lễ cho tới ngày 18 thì tế giã đám.
Trong các ngày lễ hội, sau phần lễ là phần hội của các làng với nhiều tục lệ và trò chơi dân gian như đánh cờ người, vật, múa rối nước, bắt vịt trong ao, thi dệt vải... Mộ Đạo vốn có truyền thống đấu vật nên hội Đậu bao giờ cũng có thi đấu vật. Các đô vật nổi tiếng ở các địa phương được mời đến thi tài. Trước cuộc thi vật các đô vật cao tuổi trong làng biểu diễn trước 1 keo vật mang tính trình diễn để khai mạc. Những đô vật được giải được dân xã rất tôn trọng mời ngồi chiếu trên.
Ngoài ra thi dệt vải ở hội đền Đậu cũng rất nổi tiếng và hấp dẫn. Nhiều phường dệt ở trong vùng cùng tới tham gia. Trong khu vực quy định người ta bắc 1 giàn cao và bố trí khung cửi trên đó để người thi trổ tài và người xem cổ vũ được thuận lợi. Mọi nguyên liệu do người dự thi chuẩn bị. Đến giờ quy định khi trống hiệu nổi lên, người dự thi vào vị trí. Ban tổ chức đốt hương và cuộc thi bắt đầu. Khi hương cháy hết ai dệt được nhiều và đẹp thì được giải. Trong hội đền Đậu xưa còn có trò chơi “nhảy phỗng” rất độc đáo và hấp dẫn, tiếc là đến nay không còn được duy trì.
Ngày nay, lễ hội đền Đậu được tổ chức đơn giản, gọn nhẹ hơn. Tuy vậy, những giá trị truyền thống tốt đẹp vẫn được duy trì phát huy, đáp ứng nhu cầu tâm linh tín ngưỡng của nhân dân, góp phần thắt chặt mối đoàn kết tình làng nghĩa xóm, cố kết cộng đồng, giúp người dân tăng thêm nghị lực và tinh thần trong lao động sản xuất, làm giàu thêm truyền thống văn hoá của địa phương. Đây cũng là dịp đoàn tụ, xum họp của người dân của cả 9 làng. Trong những ngày diễn ra lễ hội đền Đậu, sau phần lễ sẽ là phần hội. Phần hội thường náo nhiệt hơn bởi các trò chơi dân gian hay các trò giải trí như: ca trù, tuồng, chèo, đu cây, nhảy phỗng, thi vật, thi dệt vải, bắt trạch, bắt vịt… .

Lễ hội đền Đậu đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của quê hương Kinh Bắc - Bắc Ninh thu hút hàng ngàn khách thập phương về tham quan, chảy hội.
N.T.H.A