Thôn Từ Phong (xưa có tên là Từ Sơn) thuộc tổng Bồng Lai, huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc - nay thuộc phường Cách Bi, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Là một vùng đất cổ nằm bên bờ Bắc sông Đuống. Vùng đất này không những có sông mà còn có núi. Núi Từ Phong tựa như một con rồng lớn đang vùng vẫy giữa đồng ruộng ao, hồ, đầm vươn mình ra phía sông Đuống để hợp thuỷ. Chính con sông Đuống và núi Từ Phong đã tạo cho vùng quê này một cảnh đẹp "Sơn thuỷ hữu tình" sớm được con người khai phá, sinh cơ lập nghiệp. Trải quá trình phát triển, nhân dân đã tạo lập truyền thống văn hoá và xây dựng các công trình tín ngưỡng phục vụ cộng đồng.
Nghi môn đình nhìn từ phía trước
Tòa Đại đình nhìn từ phía trước
Đình Từ Phong vốn được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng (TK XVIII) với quy mô lớn, gồm các toà: đình Thượng, đình Hạ và hai bên Dải vũ. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi đinh bị tiêu thổ hoàn toàn trong kháng chiến. Nhưng ngay sau hoà bình lập lại, nhân dân địa phương đã dựng lại đình để làm nơi thờ Thành hoàng làng. Năm 1992, đình được trùng tu tôn tạo. Đến năm 2004, đình tiếp tục được trùng tu với với quy mô lớn mang dáng vẻ kiến trúc truyền thống. Năm 2018, tiến hành sửa đầu đao, mở rộng sân đình, sơn lại bộ khung và làm thêm một số công trình phụ trợ cho di tích.
Kết cấu bộ vì gian hồi tòa Đại đình
Hiện nay đình Từ Phong có mặt bằng kiến trúc hình chữ Đinh, mặt quay hướng Đông - Nam, bao gồm các hạng mục công trình: Nghi môn, Đại đình và Hậu cung. Đại đình 3 gian 2 chái, 4 mái đao cong, bờ nóc đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời, Bộ khung chịu lực của đình bằng chất liệu bê tông, liên kết bởi 6 hàng cột ngang và 4 hàng cột dọc, kết cấu các bộ vì kiểu “giá chiêng kẻ ngồi”. Trên các bộ phận kiến trúc đắp nổi đề tài mây, hoa lá… theo lối trang trí kiến trúc truyền thống. Hệ thống cửa được mở ở 3 gian theo kiểu “thượng song hạ bản”. Hậu cung 2 gian được ngăn cách với toà Đại đình bởi bức cửa cấm, có kết cấu tương tự tòa Đại đình. Trong Hậu cung bài trí ban thờ Đức thánh gồm long ngai, bài vị chạm khắc rồng, mây, sơn son thếp vàng, với dòng chữ Hán "Đương cảnh thành hoàng Tả tướng đại vương húy viết Phúc sinh cư sĩ".
Hiện nay, đình làng Từ Phong còn lưu giữ một số tài liệu hiện vật, đồ thờ có giá trị, tiêu biểu có: 01 bản thần tích, niên đại Vĩnh Hựu 3 (1737); 05 sắc phong, niên đại Tự Đức 6 (1853); Tự Đức 33 (1880); Đồng Khánh 2 (1887); Duy Tân 3 (1909); Khải Định 9 (1924); hệ thống bia đá khá phong phú gồm: 02 bia đá niên hiệu thời Lê; 03 bia đá niên hiệu thời Nguyễn; 01 ngai thờ thời Nguyễn; 01 bài vị thời Nguyễn; 01 đôi câu đối thời Nguyễn; 01 hương án; 01 bộ siêu đao bát bửu; long đình…
Ban thờ gian giữa tòa Đại đình

Sắc phong được phục chế trưng bày tại đình
Bia đá được bảo lưu tại di tích
Theo nội dung thần phả, sắc phong đình Từ Phong thờ một vị nhân thần đỗ Tiến sĩ có công với dân, với nước. Lai lịch, công trạng của thần có thế tóm tắt như sau: Vào khoảng thời Trần, có ông bà tên Lý Phục và Hoàng Thị Hương đến xã Đông Du, huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc sinh cơ lập nghiệp. Ông bà sinh được một người con trai đặt tên là Minh Công. Khi lớn lên, Minh Công lấy vợ tên là Diệu Nương ở xã Mai Cương gần đấy. Vợ chồng ông Minh Công sinh được hai người con trai đặt tên là Hồng Công và Tuấn Công. Hai ông lớn lên văn võ toàn tài. Vào thời vua Trần Phế Đế (1377 - 1388) mở khoa thi, cả hai ông cùng đến triều đình ứng thí. Duy chỉ có Hồng Công là đỗ Tiến sĩ. Sau khi thi trúng được bổ làm quan đến chức Hàn lâm viện học sĩ, kiêm Tham tán mưu sự. Ông nhận lệnh nhà vua đến đóng quân trấn giữ xứ Nghệ An, Thanh Hoá để giúp dân yên ổn làm ăn. Về sau, ông về quê hương ở ẩn tại thôn Từ Sơn (tức Từ Phong) cho đến khi mất. Ở đây ông đã ban phát gia tài của cải của mình giúp đỡ dân nghèo 3 thôn: Đông Du, Mai Cương, Từ Sơn. Nhân dân các thôn này ơn ông lắm, muốn tôn ông là Thần. Ngày 4 tháng 10, bỗng trời đất tối tăm, mịt mù, ông không bệnh mà hoá. Nơi ông mất mối đùn thành mộ và được nhân dân địa phương lập miếu thờ ông ở đó. Đến thời vua Lê Thái Tổ dựng cờ khởi nghĩa chống lại giặc Minh, khi tiến quân qua linh miếu của bản trang nơi đây đã được Thần âm phù đánh thắng giặc. Sau khi đất nước bình yên, nhà vua cùng tướng sĩ tiến về bản trang đến khu linh miếu lễ tạ thần. Ban cho nhân dân 3 thôn (Đông Du, Từ Sơn, Mai Cương) 100 quan tiền để hương khói phụng thờ Thần. Phong mỹ tự cho thần là “Bản cảnh thành hoàng Phúc sinh cư sĩ thượng đẳng thần”. Chuẩn cho 3 thôn Đông Du, Từ Sơn, Mai Cương muôn đời thờ phụng thần.
Ngai thờ, tượng thờ Đức Thánh đặt tại Hậu cung
Xưa, lễ hội làng Từ Phong tổ chức từ ngày mồng 9 đến 17 tháng 3 (Âm lịch) với quy mô rất lớn. Ngay từ mồng 8 làng mở cửa đình làm lễ mộc dục. Ngày mồng 9, rước kiệu Thánh từ nghè “Ba Chạ” về đình làng để tế lễ và mở hội. Ngày 10, bốn giáp rước lợn tế ra đình để tế Thánh, sau tế lễ là tục “cỗ hàng giáp” (tức thụ lộc ăn uống theo các giáp) vì vậy còn gọi là ngày “Đại yến”. Ngày 11 - 12 tế thần bằng xôi gà và các tuần tế của quan viên tế. Ngày 13 làng tổ chức rước kiệu thần giao lưu với làng Hiền Lương (xã Phù Lương). Hai thôn “kết chạ” anh em với nhau. Ngày 14 đến 17, làng tổ chức tế thần bằng xôi gà và lần lượt theo các giới phụ lão của làng. Ngày 17 tế giã đám kết thúc hội. Trong những ngày lễ hội, sau phần lễ là phần hội với nhiều tục trò dân gian vui chơi giải trí như: múa rối nước, tuồng, chèo, ca trù, đu cây, bắt vịt, cờ người…
Ngày nay, lễ hội diễn trong 1 ngày 15/3 âm lịch. 5 năm làng mới tổ chức hội lớn một lần, tổ chức rước Thánh từ đình ra nghè. Ngoài phần lễ, trong ngày hội làng còn diễn ra các trò chơi dân gian, văn hóa văn nghệ. Ngoài lễ hội truyền thống, tại đình hàng năm còn có ngày sự lệ khác như: ngày 4/10 âm lịch; Ngày Giỗ Thánh; Các ngày sóc vọng hàng tháng.

Đình làng Từ Phong đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh, quyết định số 354/QĐ - UBND ngày 20/03/2007.
Nguyễn Thị Hồng Ánh