Được phát triển bởi Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông

ĐÌNH LÀNG CÁCH BI

31/03/2024 353 0

Thôn Cách Bi có tên “làng Gạch”, xưa thuộc tổng Bồng Lai, huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn - nay thuộc phường Cách Bi, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một vùng đất cổ nằm bên bờ Bắc sông Đuống, sớm được con người khai phá tạo nên một làng quê trù phú, văn hiến. Dấu ấn cổ kính còn lưu lại ở tên đất, tên làng, các công trình tín ngưỡng, tôn giáo… đặc biệt là ngôi đình làng bề thế, linh thiêng.

Nghi môn đình nhìn từ phía trước

Tòa Đại đình nhìn từ phía trước

Đình Cách Bi vốn được khởi dựng từ lâu đời trên bãi bồi phía ngoài đê sông Đuống. Vào thời Nguyễn, năm Tự Đức 19 (1886) do nằm ngoài sông, thường xuyên bị lụt lội, sói lở nên các chức dịch và nhân dân trong làng đã quyết định di chuyển đình làng vào trong đê. Đình xưa có quy mô to lớn, kiến trúc hình chữ Đinh với toà Đại đình 5 gian 2 chái, phía sau là 3 gian Hậu cung, bộ khung gỗ lim to khoẻ trang trí chạm khắc tinh xảo nghệ thuật. Phía trước Đại đình còn hai Dải vũ, cổng Nghi môn cùng với sân vườn. Đến năm 1929, đình tiếp tục được tu bổ tôn tạo. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1951 đình Cách Bi đã bị giặc Pháp đốt cháy hoàn toàn. Năm 1993, đình được tu bổ tôn tạo lại trên nền xưa đất cũ theo dáng vẻ kiến trúc truyền thống.

Kết cấu vì gian giữa tòa Đại đình

Đình Cách Bi hiện có mặt bằng kiến trúc kiểu chữ Đinh bao gồm: Đại đình và Hậu cung, quay hướng Đông - Nam. Trong khuôn viên di tích còn có nhà Dải vũ 3 gian, nhà bia và cổng Nghi môn. Đại đình 3 gian 2 chái, kiểu thức 4 mái 4 đao cong, bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt nguyệt, Bộ khung đình được làm bằng gỗ lim chắc chắn. Kết cấu các bộ kiểu con chồng giá chiêng, tiền kẻ, hậu kẻ được liên kết với hệ thống cột gồm 6 hàng cột ngang, 4 hàng cột dọc. Trên các bộ phận của kiến trúc như các mảng cốn, con chồng, đấu vuông, đầu kẻ được chạm khắc các đề tài truyền thống như rồng, hổ phù hoa lá vân mây cách điệu. Hệ thống cửa“thượng song hạ bản” được mở 3 gian phía trước, 2 gian bên xây gạch kín có trang trí cửa sổ hình chữ nhật. Hậu cung 2 gian 1 dĩ, bộ khung gỗ lim chủ yếu được bào trơn đóng bén.

Đình Cách Bi là nơi thờ phụng Đức Thánh “Linh Lang”, người anh hùng dân tộc, danh tướng tài giỏi đã chiến đấu và hy sinh anh dũng để bảo vệ nền độc lập của dân tộc vào thế kỷ XI. Lai lịch, công trạng của Ngài có thể tóm tắt như sau: Linh Lang là con trai thứ tư của vua Lý Thái Tông và cung phi Hạo Nương, người làng Bồng Lai, huyện Đan Phượng, tỉnh Sơn Tây. Ngày 13 tháng 12 năm Kỷ Tỵ (1030) cung phi Hạo Nương đã hạ sinh một hoàng tử khôi ngô tuấn tú tại làng Thụy Chương (nay thuộc phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội) ở ven hồ Dâm Đàm (nay là Hồ Tây). Từ nhỏ, Linh Lang đã tỏ ra là một người thông minh có khí phách. Đến năm 14 tuổi đã tinh thông võ nghệ, từng theo vua cha đi đánh giặc Chiêm Thành. Năm 1076 - 1077, nhà Tống đem quân sang xâm lược nước ta, Linh Lang đã theo sự phân công của Thái úy Lý Thường Kiệt đảm nhiệm thủy quân đánh ngược lên phía Bắc, tiêu diệt cụm căn cứ của chánh tướng Quách Quỳ, cùng phối hợp với đạo quân của Lý Thường Kiệt tấn công Triệu Tiết khiến quân Tống thất trận trên phòng tuyến sông Như Nguyệt. Trong trận quyết chiến này, hoàng tử Linh Lang (Hoằng Chân) đã anh dũng hy sinh. Vua hay tin, vô cùng đau xót, để tưởng nhớ công lao đánh đuổi giặc ngoại xâm của Linh Lang, vua đã sắc phong hoàng tử là “Linh Lang Đại Vương thượng đẳng tối linh thần” và lệnh cho nhân dân những nơi Linh Lang đã đi qua xây đền miếu để thờ phụng muôn đời.

Ngai thờ, bài vị, đồ thờ tự đặt tại Hậu cung

Tiết lệ lớn nhất trong một năm của đình Cách Bi là lễ đại kỳ phúc, tục gọi là vào đám hay vào hội. Lễ hội này đựơc tổ chức từ ngày mồng 7 đến ngày mồng 9 tháng 3 âm lịch hàng năm với nhiều nghi thức tế rước trang trọng và trò vui để dân làng thưởng thức. Vào hội, ngay từ ngày mồng 7 dân làng làm lễ mở cửa đình để bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt, phát quang đường làng ngõ xóm, buổi tối có hát ảo đào, hát chèo để dân làng thưởng thức mua vui. Ngày mồng 8 chính hội (chính tịch) có tục rước kiệu từ đình ra nghè (xưa nằm ở phía đông nam đình) với ý nghĩa rước Thánh về đình để dự hội. Sau khi làm lễ tại nghè, đoàn rước trở lại đình làm lễ yên vị và tiến hành lễ tế rất trọng thể. Mâm tế gồm thịt lợn sống để nguyên cả con, xôi gà, hoa quả, trầu, rượu. Sau khi tế xong, phần lộc một phần được chia cho các xuất đinh, một phần được thụ tại đình. Ngày mồng 9, buổi sáng, sau nghi thức tế Thánh của làng là đến phần lễ của các dòng họ, gia đình, của con em làng đi công tác hay làm ăn xa và quý khách thập phương. Trong những ngày hội, song song với phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian như: Tổ tôm điếm, cờ người, hát chèo, ả đào, đấu vật… thu hút đông đảo nhân dân tham dự rất đông vui. Ngày nay, lễ hội của đình Cách Bi được tổ chức gọn nhẹ hơn, tuy vậy những giá trị truyền thống tốt đẹp vẫn được duy trì và phát huy, đáp ứng nhu cầu tâm linh tín ngưỡng của nhân dân

Ngoài ra, trong một năm đình Cách Bi có nhiều ngày sự lệ khác như: tiết khai hạ (ngày mồng 7 tháng giêng), ngày hạ điền (ngày 20 tháng 4), lễ cơm mới (ngày 15 tháng 8), lễ xôi mới (ngày 20 tháng 9), tiết chạp (ngày 2 tháng 12), tiết từ tịch và cúng giao thừa (ngày 30 tháng chạp); các ngày sóc vọng hàng tháng.

Hiện tại đình Cách Bi còn lưu giữ được nhiều tài liệu, hiện vật, đồ thờ tự có giá trị, tiêu biểu như: 06 bia đá có niên đại thời Nguyễn; 01 bộ long ngai bài vị, 01 bộ chấp kích, 01 đỉnh hương, đôi chân nến, lọ hoa, 03 đôi câu đối, 02 hoành phi

Bia đá đặt tại nhà bi

Sắc phong phục chế được treo tại đình

Đình Cách Bi đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, Quyết định số 1626/QĐ-UBND ngày 21/12/2012.

Nguyễn Thị Hồng Ánh

Những bài viết liên quan

Lịch trình mẫu