Chùa Dâu có tên chữ là Cổ Châu tự, Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, thuộc khu phố Khương Tự, phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Về nguồn gốc tên gọi, theo các văn tự chữ Hán còn lưu tại chùa trên bia đá, chuông đồng, khánh đá cho biết, thời cổ chùa có tên chữ là “Cổ Châu tự” bởi xuất phát từ tên địa danh hành chính, nơi này xưa kia thuộc xã Cổ Châu. Đến thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn chùa Dâu được đổi thành các tên “Cổ Châu Diên Ứng đại thiền tự”, “Cổ Châu Diên Ứng tự”, “Diên Ứng tự”.

Toàn cảnh chùa Dâu nhìn từ trên cao
Nhiều tài liệu lịch sử và các nhà nghiên cứu đánh giá, chùa Dâu là ngôi chùa cổ nhất trong lịch sử Phật giáo nước ta, là dấu tích quan trọng của quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Chùa Dâu là chùa Cả trong hệ thống chùa Tứ pháp vùng Dâu, gồm: chùa Dâu thờ Phật Pháp Vân (Thần mây), chùa Thành Đạo thờ Phật Pháp Vũ (Thần mưa), chùa Phi Tướng thờ Phật Pháp Lôi (Thần sấm), chùa Phương Quan thờ Phật Pháp Điện (Thần chớp). Cùng với bốn chùa kể trên còn có chùa Phúc Nghiêm thờ Phật mẫu Man Nương (mẹ của Tứ pháp). Đây là biểu hiện của tín ngưỡng dân gian thờ các lực lượng tự nhiên của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước và cũng là sự biểu hiện của tục thờ Mẫu – một tín ngưỡng mang tính bản địa sâu sắc. Ngoài ra chùa Dâu còn thờ “Đức Thạch Quang Phật”.

Theo truyền thuyết và thư tịch cổ chùa Dâu được khởi dựng từ Thế kỷ II, là tinh hoa của sự dung hội giữa Phật giáo Ấn Độ khi du nhập vào nước ta với tín ngưỡng bản địa của người Việt cổ thờ các lực lượng tự nhiên đã tạo nên một trung tâm tôn giáo tín ngưỡng mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Những thế kỷ đầu Công nguyên và sau đó, chùa Dâu là nơi trụ trì, truyền đạo, kho tàng kinh kệ của nhiều thiền sư nổi tiếng, tiêu biểu có: Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi, người Nam Thiên Trúc, dòng dõi Bà La Môn năm 580 sang nước ta trụ trì chùa Pháp Vân. Pháp Hiền xuất gia ở chùa Pháp Vân. Thiền sư Thiện Hội trụ trì chùa Thiền Định hương Siêu Loại (tức chùa Dâu)[1]. Từ trung tâm Dâu, Phật giáo đã lan tỏa đi các vùng miền khác.
Trong quá trình tồn tại chùa Dâu đã được các triều đại phong kiến trùng tu mở rộng với quy mô lớn. Vào thời Trần, chùa được Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho xây dựng với quy mô “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp”.
Hiện nay chùa Dâu có kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”, gồm các công trình: Tam môn, Tiền thất, Tháp hoà phong, Tam bảo, Hậu đường và hai dãy hành lang hai bên; các công trình phụ trợ: nhà Khách, nhà Tổ, nhà Mẫu…
Tam quan: Tam quan theo quan niệm của nhà Phật chính là tam giải thoát môn tức ba cửa giải thoát của nhà Phật.

Tòa Tiền thất và tháp Hòa Phong chùa Dâu
Tháp Hòa Phong: Tháp cao 15m gồm 3 tầng. Trên tầng hai có biển lớn với 3 chữ “Hòa phong tháp” có nghĩa “hòa cốc phong đăng”, cầu mong mưa thuận gió hòa mùa màng bội thu cho cư dân nông nghiệp. Bên trong lòng tháp có 4 tượng kim cương oai nghiêm đứng trấn 4 góc tháp. Trên cao có treo một chuông đồng đúc vào triều vua Cảnh thịnh năm 1793. Trên chuông có khắc văn tự chữ Hán có bài minh văn ca ngợi cảnh chùa, ca ngợi phật tứ pháp linh thiêng. Chiếc khánh đồng đúc vào năm Minh Mệnh 18 (1837) cũng có bài minh văn cho biết lịch sử ngôi chùa từ khởi dựng cho đến thời Trần trùng tu, bài minh văn cũng ca ngợi phật pháp, ca ngợi cảnh chùa là danh lam thắng cảnh nước nam. Cửa phía Tây của tháp có hai con Sóc đá mang phong cách thời Lê Trung Hưng; bên trái cửa này có 1 con Cừu đá. Bên cạnh tháp Hòa Phong còn có tấm bia đá tứ diện khá lớn. Mặt chính của bia có nội dung cho biết việc trùng tu tôn tạo tháp vào thời Vua Lê Ý Tông (1738).
Tam Bảo: có kiến trúc kiểu chữ “Công” gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện. Phía trước cửa tòa Tiền đường có đôi Rồng đá là dấu ấn kiến trúc điêu khắc của thời Trần. Trung tâm thượng điện là ban thờ tượng Pháp Vân cao 1,7m. Ngài tòa trên tòa sen, đầu có tóc xoắn ốc nhỏ đen nhánh, khuôn mặt nữ tính đầy đặn, giữa trán có quý tướng, lông mày lá liễu, đôi mắt hiền từ nhìn xuống, mũi dọc dừa cao đầy, miệng mỉm cười thánh thiện. Căn cứ vào phong cách tạc tượng và những hoa văn trên bệ tượng là những hình mặt trời xung quanh có mây lửa và những con rồng có bờm mây mác bay lên cho biết niên đại của pho tượng vào thời Lê Trung Hưng.

Tượng Phật Pháp Vân thờ tại chùa Dâu
Tương truyền rằng hệ thống chùa tứ pháp rất linh thiêng. Khi hạn hán xảy ra vào triều Lý vua đã cho rước tượng Pháp Vân về tận kinh thành Thăng Long để lập đàn cầu đảo thì ngay lập tức có nước để cứu dân năm đó khỏi hạn hán. Phía trước tượng Pháp Vân là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ đứng hầu. Hai pho tượng này được đánh giá là hai tác phẩm điêu khắc tròn tả thực đặc sắc nhất trong nghệ thuật tạo hình truyền thống của nước ta.
Cũng hai bên tượng pháp Vân nhưng ở bậc thấp hơn là tượng Bà Trắng và Bà Đỏ. Truyền rằng hai bà là quý tộc thời Vua Lê - chúa Trịnh có công cung tiến nhiều tiền của vào chùa làm hương hỏa nên được thờ tự ở chùa. Ngay phía dưới tượng Pháp Vân còn có pho tượng “Thạch Quang” đặt trong khám thờ. Đây là khối đá gắn liền với truyền thuyết về phật Mẫu Man Nương và Phật Tứ Pháp.
Trong tòa thượng điện còn có một pho tượng gần giống với tượng pháp Vân, đó chính là tượng Pháp Vũ. Thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp chùa Đậu bị phá hủy nên nhân dân đã gửi tượng Pháp Vũ trong chùa Dâu. Tại thượng điện của chùa Dâu còn lưu giữ được rất nhiều các pho tượng khác có niên đại thời Lê, Nguyễn như: Tam thế tôn, Quan âm, Tứ vị bồ tát, Lục vị công tào…đó là những pho tượng về sau được phối thờ.
Đằng sau Tam bảo là Hậu Đường, có kiến trúc theo kiểu ngôi nhà dài có nhiều gian, nối thông với hai dãy hành lang và tiền thất để tạo nên kiểu kiến trúc chữ “Quốc” vây quanh tòa Tam bảo kiểu chữ “Công”ở bên trong. Hậu đường được bài trí giống như Tam bảo của ngôi chùa khác, gồm các tượng như : Đức Ông, Đức Thánh Hiền, Già Lam, Chân Tể, Quan Âm Chuẩn Đề….
Hai bên hành lang là nơi có các ban thờ các vị Thập Bát La Hán (hay còn gọi tổ truyền đăng)- kế tục và phát huy ngọn đèn trí tuệ của nhà Phật. Mỗi vị được tạo tác trong một tư thế khác nhau rất sinh động…
Trải qua các thăng trầm của lịch sử đến nay chùa Dâu vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ kính và là nơi lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa quý giá của dân tộc Việt Nam bao gồm: Hệ thống tượng thờ với gần 100 pho, hệ thống bia đá (22 bia có niên đại thời: Lê, Tây Sơn, Nguyễn), chuông đồng thời Tây Sơn, khánh đồng thời Nguyễn. Với những giá trị nổi bật độc đáo về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật chùa Dâu vinh dự đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận Di tích quốc gia đặc biệt, theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Đến ngày 25/12/2017, bộ tượng Phật Tứ pháp vùng Dâu (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) được Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia, theo Quyết định số 2090/QĐ-TTg.
Đặc biệt đây còn là nơi khắc in và lưu trữ nguồn thư tịch cổ Việt Nam khá phong phú. Hiện nay, tại chùa còn bảo lưu được 107 tấm mộc bản. Các bộ mộc bản này được chính các nhà sư trụ trì tại chùa qua các thời kỳ đứng ra san khắc. Mộc bản chùa dâu được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia, Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 18/01/2024

Lễ rước Phật Tứ pháp trong lễ hội chùa Dâu
Chùa Dâu còn bảo tồn được lễ hội truyền thống vô cùng đặc sắc. Hàng năm cứ vào ngày mùng 8/4 âm lịch, nhân dân các làng thờ tượng Tứ Pháp lại mở hội với trung tâm là chùa Dâu. Ngay từ chiều mùng 7, các làng rước kiệu các Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng về trung tâm chùa Dâu để mở hội và diễn ra tục “chị e đuổi nhau”. Khi có hiệu lệnh thì hai kiệu đua nhau chạy ra Tam quan. Kiệu rước bà nào đến trước, thì bà đó đạt nước. Thường là Bà Đậu đến trước và người dân quan niệm rằng năm đó sẽ được mùa. Sáng mùng 8, kiệu sĩ Nhiếp từ trong đền Lũng Khê được rước ra để khai hội. Chiều mùng 8, các kiệu Tứ Pháp được rước về chùa Tổ làng Mãn Xá để bái phật Mẫu Man Nương. Sau đó các kiệu lại được rước trở lại chùa Dâu, tại đây diễn ra tục chị em vái nhau. Sau đó rước Phật Tứ Pháp chùa nào về chùa ấy. Kết thúc phần tế, phần hội sẽ có nhiều trò chơi dân gian thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Hội Dâu đã là một nhu cầu tâm linh sâu sắc đồng vọng với tình quê hương, bản quán.
Lê Thị Thanh Thư
(Trung tâm bảo tồn di tích và Xúc tiến du lịch Bắc Ninh)
[1] Nguyễn Quang Khải, Thích Đức Thiện, Phật giáo Bắc Ninh trong lịch sử, nxb KHXH. Tr 55-59