Được phát triển bởi Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông

DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT ĐỀN ĐÔ

21/02/2024 3110 0

Đền Đô (còn gọi là Cổ Pháp điện hay đền Lý Bát Đế) là một quần thể công trình kiến trúc tín ngưỡng được công nhận là di tích Quốc gia đặc biệt vào năm 2014. Đền thờ tám vị vua nhà Lý, vốn được khởi công xây dựng từ năm 1019, ban đầu chỉ là một Thái miếu do Lý Thái Tổ xây dựng trên khu đất phía đông nam Hương Cổ Pháp, Châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng). Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, vượng khí, linh thiêng. Làng Cổ Pháp là nơi phát tích của triều đình nhà Lý, kéo dài hơn 200 năm. Sử sách ghi chép lại cho biết, năm 1010, sau khi lên ngôi hoàng đế, Lý Công Uẩn đã ban chiếu dời đô từ Kinh đô Hoa Lư – Ninh Bình về thành Đại La – tức Thăng Long – thủ đô Hà Nội ngày nay. Sau đó người trở về thăm quê nhà Cổ Pháp. Người thăm hỏi thần dân, ban tiền lụa cho các bậc kỳ lão, yết lăng thái hậu và đo mươi dặm đất làm cấm địa thuộc Sơn Lăng (Thọ lăng Thiên Đức, nơi yên nghỉ của các vị vua triều Lý ngày nay). Theo Thiền sư Lý Vạn Hạnh khu đất này là nơi hội tụ của thiên khí, nơi có thế 8 đầu rồng chầu về.

Trải qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Đền Đô luôn được triều đình quan tâm trùng tu tôn tạo. Đặc biệt vào thời Lê, năm 1604, dưới thời vua Lê Kính Tông, đền Đô đã được trùng tu với quy mô lớn, sau khi công việc trùng tu đền hoàn thành, nhà vua đã cho dựng bia và hiện nay tấm bia vẫn được lưu giữ tại Đền Đô. Nhưng rất tiếc trong thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp, đền Đô đã bị phá hủy hoàn toàn. Đến năm 1989, nhân kỷ niệm 980 năm ngày vua Lý Thái Tổ mở đầu dựng nghiệp nhà Lý, được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh  cùng chính quyền và nhân dân địa phương, đền Đô đã được khởi công xây dựng lại theo đúng bản vẽ và ảnh chụp của Viện Viễn Đông Bác Cổ.

Hiện Đền Đô rộng 31.250 m2, gồm 21 hạng mục công trình lớn nhỏ, chia thành 2 khu vực: nội thành và ngoại thành. Ngoại thành bao gồm các hạng mục công trình: nhà Văn chỉ, nhà Võ chỉ, nhà Thủy đình, Hồ bán nguyệt...Nội thành bao gồm: Cổng Ngũ Long Môn, Sân rồng, Nhà Phương đình, Tiền tế, nhà Chuyển bồng, Hậu cung, nhà Ngựa, nhà Bia, đền Mẫu, nhà khách, Phòng truyền thống.

Toàn cảnh mặt trước Đền Đô

* Nhà Thủy đình, xưa kia mỗi lần các vua Lý về thăm quê đều ngự ở đây để nghỉ ngơi. Sau này, nhà thủy đình Đền Đô từng được Ngân hàng Đông Dương xưa chọn là hình ảnh in trên giấy năm đồng vàng. Năm 2010, nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thủy đình đã được chọn là hình ảnh in trên đồng tiền 1000 kim loại.

 

 

Hiện nay vào thứ 7 chủ nhật hàng tuần tại nơi này các liền anh liền chị trong câu lạc bộ quan họ đền Đô trình diễn dân ca quan họ.

* Chiếu dời Đô: bản chiếu dời đô này đã được trung tâm sách kỷ lục Guinness công nhận là bản chiếu dời đô lớn nhất Việt Nam hiện nay, nội dung của bản chiếu dời đô đã thể hiện sự am tường và hiểu biết sâu sắc về thiên văn và địa lý của đức vua Lý Thái Tổ. Và có một điều trùng hợp hết sức đặc biệt là nội dung chính của bản chiếu dời đô có 214 chữ tương ứng với 214 năm trị vì của tám vị vua có thực quyền cai trị đất nước trong vương triều Lý (từ năm 1010 đến năm 1224).

* Cổng Ngũ Long Môn: Ngũ Long Môn hay còn gọi là năm cửa rồng. Kính thưa quý vị thường chỉ những nơi thờ vua hay là nơi nhà vua làm việc thì mới có cửa rồng. Cửa rồng đền Đô được làm hoàn toàn bằng gỗ quý mái lợp ngói mũi hài, xưa kia cửa chính chỉ dành cho vua đi, quan văn quan võ đi bằng 2 cửa bên cạnh, còn dân thường và lính đi bằng cửa tò vò 2 bên.

* Sân Rồng: sân Rồng  đền Đô còn gọi là Trung Minh Đường, quý khách đi đến đền Đô đều đứng tại sân rộng đền Đô để lễ tám vị vua nhà Lý. Theo thuyết dân gian khi đứng lễ tại sân rồng quý khách sẽ tiếp nhận được linh khí của trời đất. Đền Đô thờ tám vị vua triều Lý, chính vì vậy các hàng gạch ở sân Rồng  đều có 8 ô. Các ô đá tròn tượng trưng cho các mặt trống đồng của tổ quốc. Khi làm lễ dâng hương tôi mời mỗi người đứng vào một ô đá tròn và sẽ có ba tiếng trống và một tiếng chiêng.Sau tiếng trống quý vị lễ một lễ, lễ thứ nhất là lễ trời thiêng đã che chở cho chúng ta, lễ thứ 2 là lễ đất thiêng đã tạo cho chúng ta chỗ đứng trong cuộc đời, lễ thứ ba là lễ tiền nhân và các đức vua nhà Lý, sau tiếng chiêng quý vị lễ 5 lễ, năm lễ này ứng với phúc lộc thọ khang ninh và sau đó quý vị sẽ cầu ước những điều ước riêng của mọi người.

* Nhà Phương đình: Tại gian giữa là ban thờ vua. Hai bên có tượng 2 ông tướng Đá Rãi. Hai ông tướng Đá Rãi tương truyền là 2 anh em sinh đôi Lý Hải và Lý Khoáng. Hai ông là người dân tộc thiểu số, có công giúp nhà vua đánh giặc nên được mang họ Lý. Hai ông trong trang phục đóng khố cởi trần thể hiện bản sắc dân tộc Việt: phò vua khi sống, thờ vua khi chết đều ở nhân dân.

* Nhà tiền tế: tại đây trưng bày những hiện tượng linh thiêng xuất hiện ở đền đô như: như bức ảnh 8 dải mây ứng với tám đức vua được trưng bày bên trái. Bên cạnh đó còn hiện tượng áng mây rồng vàng được trưng bày bên phải. Vào đúng ngày Lễ hội đền Đô năm 2003, những người dự lễ hội tại đây đã chứng kiến một hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ: Một dải mây hình rồng vàng từ phía Thăng Long - Hà Nội bay về đứng lên nóc đền Đô một lúc rồi tản ra, đúng lúc dân làng Đình Bảng bắt đầu lễ rước "Linh bài Lý Thái Tổ và Chiếu dời đô ra Thăng Long" theo nghi lễ cổ truyền... Các nhà khoa học giải thích, đó chỉ là sự trùng hợp kỳ lạ của thiên nhiên. Nhưng với người dân Đình Bảng, điều đó có nghĩa là các vị vua nhà Lý vẫn luôn hiện diện đâu đó trên mảnh đất quê nhà.

Tòa phương đình Đền Đô

* Linh cung: nơi đặt tượng và ngai, bài vị của 8 đức vua. Linh cung đền đô được xây dựng theo kiến trúc các số gian lẻ như phần lớn các ngôi đình đền chùa vùng đồng bằng bắc bộ. Kiến trúc đền đô được đặt theo thế đối xứng. Chính vì vậy ở đền đô thờ 8 đức vua nhưng được làm có 7 gian:

- Vua Lý Thái Tổ (húy Công Uẩn): làm vua 19 năm (1009-1028). Thọ 55 tuổi. Đây là vị vua có con mắt mang tầm nhìn chiến lược vĩ đại. Người quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La nay là Thăng Long – Hà Nội.

- Vua Lý Thái Tông (húy Phật Mã): làm vua 26 năm (1028-1054). Thọ 55 tuổi. Thời này nhân dân được mùa màng bội thu. Chính bởi vậy dân gian còn lưu truyền câu ca : Đời vua Thái Tổ Thái Tông / Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn

- Vua Lý Thánh Tông (húy Nhật Tông) làm vua 18 năm (1054-1072). Thọ 50 tuổi. Ông có bà vợ rất đảm đang mà nhân dân cả nước đều biết là Nguyên Phi Ỷ lan, bà đã 2 lần buông rèm nhiếp chính thay chồng con cai quản đất nước

- Vua Lý Nhân Tông (húy Càn Đức) làm vua 56 năm (1072 – 1128). Thọ 62 tuổi. Là người thành lập trường đại học đầu tiên của nước ta – Quốc Tử Giám để đào tạo nhân tài cho đất nước

-Vua Lý Thần Tông: (húy Dương Hoán) làm vua10 năm (1128-1138). Thọ 23 tuổi. Thời kỳ này là cháu nối ngôi bác vì vua Lý Nhân Tông không có con trai, thời này đất nước bình yên.

- Vua Lý Anh Tông (húy Thiên Tộ) làm vua 37 năm (1138-1175). Thọ 40 tuổi. Người 2 lần ra hải đảo Vân Đồn Quảng Ninh để vẽ lên bản đồ đất nước Việt Nam

- Vua Lý Cao Tông (húy Long Trát): làm vua 35 năm (1175-1210). Thọ 38 tuổi. Thời kỳ này triều đình suy yếu, quyền lực nằm trong tay Trần Thủ Độ

- Vua Lý Huệ Tông (húy Hạo Sâm) làm vua 14 năm (1210-1224). Thọ 33 tuổi. Thời kỳ này nhà Lý suy yếu, lại không có con trai, nên đã nhường ngôi cho con gái là bà Lý Chiêu Hoàng.

          Vị vua thứ 9 nhà Lý là bà Lý Chiêu Hoàng được thờ tại Đền Rồng. Làm vua 2 năm. Thọ 62 tuổi. Bà lên ngôi 2 năm sau đó nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, vương triều Lý kết thúc.

* Nhà bia, nơi đặt “Cổ Pháp Điện Tạo Bi (bia đền Cổ Pháp). Tấm bia đá này được khắc dựng năm Giáp Thìn (1605), do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, ghi lại sự kiện lịch sử nhà Lê xây dựng lại đền Đô và ghi công đức của các vị vua triều Lý. 

Lễ hội đền Đô được tổ chức hàng năm vào ngày 15 - 17 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang (15 tháng 3 năm Canh Tuất - 1010). Đây là ngày hội lớn thu hút nhiều khách hành hương thể hiện lòng thành kính nhớ ơn của người dân Việt đối với các vị vua triều Lý. 

Đền Đô với kiến trúc độc đáo, cảnh trí hữu tình và mang trong mình một giá trị lịch sử văn hoá đậm nét của Vương Triều Lý nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung. Đền Đô xứng đáng với lời ngợi ca:

“Đền Đô kiến trúc tuyệt vời

Thăng Long đẹp đất đẹp người ngàn năm”

Đền Đô được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử – văn hóa năm 1991. Năm 2014, nơi đây cùng với các khu lăng mộ của các vua nhà Lý đã được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt.

Thủy đình Đền Đô

Đoàn rước trong lễ hội Đền Đô

Đội tế các cụ ông tại Đền Đô

Múa rồng tại lễ hội Đền Đô

Biểu diễn nghệ thuật tại lễ hội Đền Đô

Những bài viết liên quan

Lịch trình mẫu