Nói đến Bắc Ninh – Kinh Bắc là nói đến một vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng nổi tiếng, nơi đã sản sinh ra: “Một giỏ sinh đồ, một bồ ông Cống, một đống Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn”. Hay đã đi vào trong dân gian với câu ca:
Tỉnh Bắc có lịch có lề
Có nghề buôn bán, có nghề cửi canh
Có nghề xe chỉ, học hành
Có nghề tô vẽ tờ tranh bốn mùa.
Văn Miếu là nơi tôn thờ đạo Khổng, ghi danh những bậc khoa bảng tiên hiền, tiên triết của quê hương nhằm giáo dục truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, giúp việc học hành và chăm lo bồi đắp nhân tài cho quê hương đất nước.

Toàn cảnh Văn Miếu Bắc Ninh
Theo các nguồn sử liệu và văn bia tại Văn Miếu cho biết: Văn Miếu Bắc Ninh xưa kia vốn được khởi dựng trên sơn phận Thị Cầu, thuộc huyện Võ Giàng vào thời Lê là thời kỳ hưng thịnh nhất của Nho giáo và khoa cử Hán học ở nước ta, và cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất về khoa bảng của quê hương Bắc Ninh-Kinh Bắc.
Năm 1802, vào thời vua Gia Long, Văn Miếu Bắc Ninh được trùng tu lần thứ nhất
Năm Thiệu Trị thứ 4, 1844 Văn Miếu Bắc Ninh được cho xây dựng lại.
Năm Thành Thái Kỷ Sửu (1889), quan đốc học Đỗ Trọng Vĩ đã cho dựng khắc 12 tấm bia Kim bảng lưu phương, để lưu danh các nhà khoa bảng đất Kinh Bắc.
Sau nhiều năm, do chiến tranh và thiên tai Văn Miếu Bắc Ninh đã bị xuống cấp nặng nề. Năm Thành Thái thứ 5 (1893), quan đốc học Đỗ Trọng Vĩ đã bàn bạc với các quan chức đầu tỉnh cho chuyển dời Văn Miếu về xây dựng lại trên núi Phúc Đức, thuộc phường Đại Phúc- TP Bắc Ninh ngày nay. Văn Miếu được xây dựng với quy mô khá lớn, gồm các công trình: Tam môn, Tiền tế, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà Tạo soạn, Hội đồng trị sự, xung quanh còn là sân vườn và cây cối thâm nghiêm.
Năm 1928, Văn Miếu Bắc Ninh được trùng tu tôn tạo, và trong lần trùng tu lần này đã cho dựng tấm bia đá dạng bình phong. Tấm bia được khắc chữ ở cả hai mặt, có tên “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký” dựng năm Bảo Đại 3 (1928) có nội dung ca ngợi đạo Khổng, ca ngợi thuần phong mỹ tục và truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Ninh- Kinh Bắc. Đồng thời ghi tên tuổi của các vị chức sắc đã công đức tiền của vào việc trùng tu Văn Miếu.
Nhưng rất tiếc trong thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp, Văn Miếu đã bị giặc Pháp phá hoại thậm chí chúng còn cho xây dựng lô cốt tháp canh cao hàng chục mét ngang đầu nhà Tiền tế.
Ngay sau khi hòa bình lập lại nhân dân địa phương đã có ý thức bảo vệ Văn Miếu. Năm 1988, Bộ Văn hoá thông tin đã xếp hạng Văn Miếu là di tích cấp Quốc gia. để bảo tồn các giá trị văn hoá, năm 2002 UBND tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt dự án đầu tư, xây dựng, trùng tu tôn tạo di tích Văn Miếu với quy mô lớn.

Tam môn Văn Miếu Bắc Ninh
Văn Miếu hiện nay gồm các công trình: Cổng Tam môn, Tiền tế, Hậu đường, nhà Bi đình, Tả vu, Hữu vu.
- Nhà Tiền tế: xưa là nơi dâng hương, lễ vật, tổ chức các cuộc tế lễ vào các dịp xuân thu nhị kỳ hàng tháng của các vị chức sắc và khoa mục trong tỉnh. Ngày nay, Văn Miếu Bắc Ninh thường xuyên được đón tiếp các trường học, các đội tuyển tham dự các kỳ thi học học sinh giỏi cấp tỉnh, thành phố, quốc gia, quốc tế... về dâng hương làm lễ xuất quân và báo công sau mỗi kỳ thi.
Tại gian giữa của nhà Tiền tế đặt hương án, phía trên hương án là bức hoành phi “Văn hiến tư tại” với ý nghĩa đây là nơi văn hiến. Gian bên trái đặt tấm bia có tên “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” dựng năm Duy Tân 6 (1912) có nội dung ghi chép lại việc di dời Văn Miếu từ núi Thị Cầu về núi Phúc Đức ngày nay. Gian bên phải đặt tấm bia có tên “Bắc Ninh tỉnh quan viên cung tiến” dựng năm 1896 ghi lại việc các quan viên tỉnh Bắc Ninh cung tiến ruộng vườn vào Văn Miếu làm điền tự.
- Sau nhà Tiền tế là Hậu đường, Hậu đường là nơi đặt ban thờ Đức thánh Khổng Tử - ông tổ của nền Nho học và các vị tiên hiền, tiên triết của quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc.
- Đặc biệt tại nhà 2 nhà Bi đình hiện còn bảo lưu được 12 tấm bia “Kim bảng lưu phương” (tức Bảng vàng lưu danh) dựng năm Thành Thái kỷ sửu (1889) ghi chép về khoa thi, họ tên, quê quán, chức tước, học vị của 677 vị đại khoa sứ Kinh Bắc (bắt đầu từ khoa thi Minh kinh bác học triều Lý(1075) đến khoa thi Hội cuối cùng triều Nguyễn (1919). Năm 2020, 12 tấm bia Kim bảng lưu phương đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Đây là nguồn sử liệu phong phú và quý giá nhất về lịch sử giáo dục và khoa cử của quê hương Bắc Ninh – Kinh Bắc.
Bắc Ninh- Kinh Bắc là quê hương có truyền thống hiếu học, khoa bảng nổi tiếng. Trải gần nghìn năm chế độ khoa cử phong kiến: Bắt đầu từ khoa thi Minh kinh bác học triều Lý năm Ất Mão (1075) đến khoa thi cuối cùng triều Nguyễn năm Kỷ Mùi (1919) nước ta có 188 khoa thi với 2971 vị đỗ đại khoa thì riêng tỉnh Bắc Ninh đỗ đạt là 677 vị, chiếm 1/3 tổng các vị đại khoa trong cả nước. Theo địa giới hành chính hiện nay thì Bắc Ninh có khoảng gần 400 vị. Tại nhà bia bên phải là 6 tấm bia, ghi từ khoa thi Minh kinh bác học triều Lý năm Ất Mão (1075) đến khoa thi Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh 2(1592).Tại nhà bia bên trái là 6 tấm bia, ghi từ khoa thi Ất Mùi niên hiệu Quang Hưng 18 (1595) đến khoa thi Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 13 (1901).
Truyền thống khoa bảng của Bắc Ninh nổi tiếng với nhiều đặc điểm tiêu biểu như: Người đỗ thủ khoa đầu tiên trong nước năm 1075 (Lê Văn Thịnh), nơi đạt các thứ hạng cao nhất trong tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), khoa thi đậu nhiều nhất trong nước (1478), là nơi có vị đậu Tiến sĩ trẻ tuổi nhất (Nguyễn Nhân Thiếp 15 tuổi), nơi có vị đậu Tiến sĩ nhiều tuổi nhất (Quách Đồng Dần 68 tuổi). Những dòng họ khoa bảng nổi tiếng như họ Nguyễn (làng Kim Đôi- Quế Võ) được gọi là làng Tiến sĩ. Đương thời vua Lê Thánh Tông từng nói với thị thần rằng: dòng họ Kim Đôi áo đỏ, áo tím đầy triều. Còn dân gian vẫn truyền nhau câu ca:
Kim Đôi nhiều cuộc hiển vinh
Hai mưoi lăm vị khoa danh rỡ ràng
Trong 25 vị Tiến sĩ của làng Kim Đôi, có tới 18 vị mang họ Nguyễn, trong đó có gia đình 5 anh em ruột đỗ tiến sĩ và cùng làm quan một triều, giữ những trọng trách quốc gia. Nguyễn- Kim Đôi cũng là họ duy nhất 13 đời liên tiếp đỗ đại khoa,trong đó có 9 anh em, chú cháu cùng làm quan đại thần một triều.
Ngoài ra còn có dòng họ Ngô (Vọng Nguyệt- Yên Phong) và dòng họ Nguyễn ở Tam Sơn (TX Từ Sơn) cũng là một trong những làng tiêu biểu về truyền thống khoa bảng với 17 vị Tiến sĩ. Có Trạng nguyên Nguyễn Quan Quang là vị Trạng Nguyên đầu tiên của nước ta. Tam Sơn cũng là nơi duy nhất trong cả nước có đủ Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), thật đúng với câu ca:
Tam Sơn là đất ba gò
Của trời vô tận, một kho nhân tài
Trải qua các triều đại, nhiều nhà khoa bảng Kinh Bắc tên tuổi nổi tiếng trong sự nghiệp xây dựng và chống giặc ngoại xâm. Các nhà khoa bảng là rường cột của quốc gia trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao, chính trị, quân sự…
Tiêu biểu như Trạng nguyên- Thái sư Lê Văn Thịnh là nhà ngoại giao xuất sắc, đi sứ nhà Tống đòi về cho nước ta được 3 động 6 huyện. Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo, đi sứ phơi kinh trên bụng khiến triều đình nhà Thanh vô cùng kính nể. Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo,cháu gọi Nguyễn Đăng Cảo bằng bác ruột, quê làng Hoài Bão, có tên nôm là làng Bịu ( nay là xã Liên Bão, huyện Tiên Du). Nguyễn Đăng Đạo, thường gọi là trạng Bịu là nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc, đi xứ với trí thông minh, đòi lại được cho nước ta 3 động khiến nhà Thanh vô cùng cảm phục và suy tôn là “Đệ nhất khôi nguyên Bắc triều”. Sau khi ông mất, vua Lê Dụ Tông và chúa Trịnh Cương vô cùng thương tiếc ban cho 4 chữ: “Lưỡng quốc Trạng nguyên” và một câu đối:
Tiến sĩ, thượng thư thiên hạ hữu
Trạng nguyên, tể tướng thế gian vô
(Có nghĩa là: Đậu Tiến sĩ làm đến Thượng Thư thì trong thiên hạ thấy có nhiều, nhưng đậu Trạng nguyên làm đến Tể tướng thì hiếm có). Tứ nguyên Nguyễn Đăng, người xã Chi Lăng- Quế Võ, dân gian gọi nôm là làng Tỏi. Là nhà chính trị, văn hóa, ngoại giao kiệt xuất, đi sứ với tài thơ phú nổi tiếng được vua quan nhà Minh phong làm Trạng nguyên. Còn dân gian kể về tài đức của ông gọi là Trạng Tỏi và truyền nhau câu “Phú Trạng Tỏi hỏi làm chi”.
Những nhà khoa bảng đất Kinh Bắc đã góp phần làm rạng rỡ những trang sử dân tộc bằng chính tài năng đức độ và lòng yêu nước nồng nàn. Truyền thống hiếu học khoa bảng của các bậc nho học đất Kinh Bắc đã trở thành nét văn hiến tiêu biểu của quê hương Kinh Bắc- Bắc Ninh.
Với những giá trị lớn lao nhiều mặt của di tích, năm 1988 Văn Miếu Bắc Ninh đã được xếp hạng là di tích quốc gia.
Văn Miếu Bắc Ninh là nơi giáo dục và phát huy truyền thống hiếu học, khoa bảng của quê hương. Nơi đây thường đón tiếp các đoàn học sinh giỏi quốc gia và quốc tế của tỉnh Bắc Ninh đến dâng hương, báo công sau mỗi kỳ thi.

Lễ dâng hương của lãnh đạo tỉnh và các sở, ban ngành tại Văn Miếu Bắc Ninh
Nối tiếp truyền thống khoa bảng, hiếu học của quê hương, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Bắc Ninh có những tấm gương tiêu biểu như đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Hoàng Quốc Việt… thế hệ trẻ Bắc Ninh hôm nay đang từng ngày, từng giờ rèn đức, luyện tài để cống hiến một phần tài năng, trí tuệ của mình xây dựng quê hương đất nước ngày càng phồn thịnh, văn minh. Đúng như lời Tiến sĩ Thân Nhân Trung ghi tại Văn Miếu Quốc Tử Giám: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước hùng cường và phát triển, nguyên khí suy thì thế nước suy nhược và ô nhục”.
Hàng năm vào ngày Rằm tháng Giêng lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và các Sở, ban, ngành của tỉnh tổ chức lễ dâng hương tại Văn Miếu Bắc Ninh nhằm tri ân đức Khổng Tử, các vị tiên hiền, tiên triết, các vị đại khoa vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc được thờ tự tại đây.
Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Anh Tuấn xin chữ đầu năm tại Văn Miếu Bắc Ninh

Hoạt động xin chữ đầu năm tại Văn Miếu Bắc Ninh
Lãnh đạo ngành giáo dục dâng hương tại Văn Miếu Bắc Ninh

Lễ dâng hương đội tuyển học sinh giỏi trường liên cấp Hoàng Hoa Thám

Lễ kếp nạp đội viên tại Văn Miếu Bắc Ninh


Hoạt động tìm hiểu lịch sử, văn hóa tại Văn Miếu Bắc Ninh