
Toàn cảnh đền Liễu Giáp
Theo các tài liệu thư tịch cổ và tư liệu địa phương cho biết ngôi đền được khởi dựng từ thời Lê. Đến thời Nguyễn được trùng tu, tôn tạo vào năm Bảo Đại 19 (1944). Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, năm 1947 ngôi đền đã bị tiêu thổ hoàn toàn. Hoà bình lập lại dân làng xây dựng ngôi đền nhỏ để thờ tự. Năm 2004 - 2005, nhân dân địa phương trùng tu tôn tạo lại ngôi đền khang trang, tố hảo như hiện nay. Năm 2008, xây dựng nhà thờ Cô - Cậu bên trái giáp với đền thờ chính. Năm 2020 xây tòa thủy đình phía trước đền. Năm 2022, ốp lại toàn bộ tường của ngôi đền và đắp đôi voi chầu phục trước cổng đền.
Hiện nay, đền Liễu Giáp gồm các hạng mục công trình: Tiền tế, Hậu cung tạo thành mặt bằng kiến trúc hình chữ Đinh, Nghi môn, nhà thờ Cô, Cậu, ban thờ lộ thiên Trung Sơn - Thạch Thần. Tiền tế có kiến trúc kiểu “bình đầu bít đốc tay ngai cột trụ cánh phong”. Hệ khung chịu lực bằng gỗ, gồm 6 bộ vì tạo thành 5 gian. Mỗi bộ vì có 4 hàng cột, kết cấu kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ chồng rường bảy hiên”. Hậu cung gồm 3 bộ vì tạo thành 2 gian. Mỗi bộ vì có 2 hàng chân cột, kết cấu kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ chồng rường” xà nách gác lên tường bao.
Ngoài đền thờ chính ra, bên trái có nhà thờ Cô - Cậu, quy mô 3 gian Tiền tế, 1 gian Hậu cung và đền thờ Trung Sơn - Thạch Thần (cách hồi nhà đền thờ Liễu Giáp khoảng 10 m). Khu vực có xây một ban thờ lộ thiên nhỏ, xây bằng gạch, nhìn ra hướng Tây - Nam. Các công trình của di tích đều trong tình trạng kỹ thuật tốt.

Ban thờ tại gian giữa tòa Tiền Tế
Theo tư liệu để lại cho biết đền thờ Nữ tướng Liễu Giáp. Bà sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khó ở Kẻ Trũng (tên nôm của Lũng Sơn) là con của ông bà Trần Tuệ - Lê Thị Nhâm. Liễu Giáp đến tuổi trưởng thành, cũng là lúc đất nước bị nhà Hán xâm lược. Không chịu sống quỳ, không thể cam tâm ngồi nhìn quân giặc đè nén, áp bức dân lành, Liễu Giáp đã luyện rèn võ nghệ, rồi tập hợp trai tráng và nhân dân trong vùng lập đồn, dựng trại, luyện tập chiến đấu…ngay trên mảnh đất quê hương. Khi nhận được lời hịch kêu gọi của Hai Bà Trưng, Liễu Giáp đã mang quân về tụ nghĩa, được sự phân phong của Trưng vương. Sau đó, Liễu Giáp cầm quân quyết chiến, góp phần đánh tan giặc Hán và được Trưng Vương phong thưởng rất hậu. với công lao to lớn của bà với dân với nước khi bà hóa nhân dân đã lập miếu đền thờ cúng, phụng thờ. Ngoài thờ nữ tướng Liễu Giáp tại tòa Tiền tế của đền còn đặt ban thờ Mẫu: Tam tòa Thánh Mẫu, Ngũ Vị tôn Quan, Đức Thánh Trần.

Tượng thờ Nữ tướng Liễu Giáp tại Hậu cung
Hiện trong đền còn bảo lưu được nhiều tài liệu, hiện vật quý có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật có niên đại từ thời Lê - Nguyễn như: Thần tích, Bát hương, Biển gỗ, Bát bửu, Chuông đồng…vv.

Bản thần tích khắc trên gỗ
Lễ hội truyền thống đền Liễu Giáp được tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng. Trong năm còn có các ngày sự lệ như: Ngày sinh Đức thánh Liễu Giáp ngày 15 tháng 8. Ngày giỗ Đức thánh Liễu Giáp ngày 3 tháng 3. Vào dịp này nhà đền cùng nhân dân địa phương tổ chức tế lễ dâng hương tưởng nhớ tới công ơn của bà Liễu Giáp đã có công dẹp giặc cứu dân cứu nước. Sau phần lễ là phần hội với nhiều tục trò vui chời giải trí như: múa rồng, múa lân và tổ chức hát chèo, tuồng, dân ca quan họ thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương về dự hội.
Với những giá trị tiêu biểu trên, Đền Liễu Giáp đã được nhà nước xếp hạng là di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia, Quyết định số 34-VH/QĐ ngày 9/01/1994.
Nguyễn Thị Hồng Ánh
(TT Bảo tồn di tích và Xúc tiến du lịch Bắc Ninh)